BỐ TÔI- HUYNH ĐỆ CHI BINH

15 Tháng Mười Một 20189:13 CH(Xem: 82)
ba

BỐ TÔI- HUYNH ĐỆ CHI BINH

(Kính tưởng nhớ và tri ơn những người lính Việt Nam Cộng Hòa với lòng trân quý)

Năm lên 7 tuổi, bố tôi theo ông bà nội di cư từ Hà Nội vào Hội An- Quảng Nam, vài năm sau, gia đình dời vào Qui Nhơn. Năm 1975, khi ở tù cải tạo về, bố lên Dalat lập nghiệp và giờ bố xuống Sài Gòn ở với chị em tôi an hưởng tuổi già

Bố ở nhiều nơi, vì thời thế lịch sử sang trang, do việc kiếm sống không cần giao tiếp nhiều và không biết uống rượu nên bạn thân của bố ít, đếm trên đầu ngón tay.

Nghĩ cũng khá lạ. Bạn tri kỷ của bố đa phần là người thiên cổ dẫu ở vào tuổi còn rất trẻ.

Chú Lê Thái Chân học với bố từ năm lớp đệ thất đến đệ nhị trường Tân Bình, ngôi trường của bà cố vấn Ngô Đình Nhu xây dựng, sau đổi thành trường Nữ trung học Qui Nhơn. Vào thập niên 60 của thế kỷ trước, thi tú tài II trải qua 2 đợt: thi viết và vấn đáp. Chú Chân đậu phần viết nhưng rớt vấn đáp (cả  Qui Nhơn, kỳ thi ấy chỉ có 5 người đậu). Chú Chân buồn vì “ học tài thi phận” nên “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Chú chọn binh chủng nhảy dù thiện chiến, gan dạ. Một thời gian, chú  lên Đại úy Pháo đội trưởng pháo binh. Lần cuối hai người gặp nhau khi chú dẫn lính đi học ở quân trường Lam Sơn. Năm 1975, trong trại tù, bố gặp chú Tước, pháo đội phó, chú kể : Khánh Dương nằm trên đèo Cả là trận đánh lớn cuối cùng ở miền Trung cố giữ không để mất miền duyên hải. Lữ đoàn dù bị pháo tan tác. Sau trận đánh, những người lính sư đoàn dù bị bắt giam vào trại Lam Sơn, nhưng không thấy Lê Thái Chân, có lẽ đã mất trong trận mưa pháo.

Trong những tấm hình đen trắng còn sót lại của bố, chú Võ Ngọc Bích với nụ cười tươi tắn, trẻ trung trong chiếc áo bỏ thùng, cặp mắt kính đen bên chiếc xe BS 68 cạnh bờ biển với bố. Chú Bích bị bắt  ở Bồng Sơn. Năm 1972 khi hai bên trao trả tù binh, chú không được về bởi một đêm trong núi rừng Trường Sơn, trời lạnh, chú nằm bên đống lửa sưởi ấm không may bị bỏng. Không được chữa trị nên chú bị nhiễm trùng và mất. Mộ phần nằm đâu đó trong rừng sâu.

Sau khi ở tù về, bố gặp lại chú Đặng Trần Dũng cùng làm Huấn Luyện tân binh với bố ở quân trường Lam Sơn. Trong mảnh vườn ở An Bình- Dalat, không có gà vịt, chú làm thịt chó đãi bố và chú Khê, rồi chú về Sai Gòn tính chuyện vượt biên. Chú nhắn bố xuống nhưng bố chưa thu xếp được tiền bạc thì đã nghe tin chú Dũng mất, bỏ xác  ngoài biển Đông.

Mỗi buổi trưa, chưa tới cổng nhà, chú Nguyễn Văn Hùng đã cất tiếng gọi tên bố. Người trong xóm gọi chú Hùng Móm. Chú là lính thiết giáp, trong trận đánh ở Cai Lậy, chú bị trúng mảnh đạn, bể cả xương hàm. Chú nằm điều trị ở Quân Y Viện Cộng Hòa thì đến ngày 30-4, chú buộc phải rời viện về quê tận Đơn Dương. Chú chịu đau để xương tự lành vì không có tiền chữa trị. Nhìn bên ngoài chú khỏe khắn nhưng mỗi lần ăn cơm, thức ăn vương vãi và lúc trở trời chú đau nhức khắp thân. Bố và chú cùng chia nhau ly cà phê, điếu thuốc. Chú ra về xuống con dốc nhỏ, dáng ốm cao liêu xiêu trong trời chiều sẩm tối. Trời thương cho chú gặp cô Thủy, khi cuộc sống chú vừa sung túc thì chú ra đi vì bệnh ung thư gan

Cả những người bạn còn ở trần gian bố cũng ít gặp

Chú Lễ là thương gia tài giỏi, chú có nhà lầu và cả một trang trại trồng cây điều. Chú ở Sài Gòn nhưng chú đau tim không đi xe được, bố ngại ra khỏi nhà nên thỉnh thoảng hai người mới gặp nhau.

Sau những lần đóng tàu vượt biên không thành, mất gần hết tài sản, chú Phạm Bình Nhơn phúc hậu hiền lành mở một quầy bán sách cũ trên lề đường Hồng Thập Tự. Nhờ vậy mà kiến thức của chú vốn đã rộng bởi chú hay đi khắp nơi nay lại càng mênh mông. Ác thay, chú vướng vào căn bệnh alzheimer, chú dần dà quên lãng người thân, bạn bè, sách vở. …. Mỗi khi đi ngang con đường bán sách báo cũ, bố bâng khuâng tự hỏi: chú giờ ra sao trong căn nhà với bức tường khóa chặt hay khu dưỡng lão nào ở bên Mỹ sau khi được nhà vợ bảo lãnh qua.

Chú nguyễn Hữu Nghiệm làm bạn tri kỷ với bố từ lúc còn đi học đến ngày nay, họ gắn bó với nhau từng thời kỳ trong quân đội. Chú là mẫu người lính đa tình: khỏe mạnh, cao to, hào hoa và lãng tử.  Chú Nghiệm bị tù đến 7 năm nhưng khi làm giấy tờ, chú cùng đợt phỏng vấn HO với bố. Ngày bố bị từ chối, chú tiễn chúng tôi lên xe về lại Dalat. Trong làn nước mắt, bóng chú nhìn theo xe ám ảnh chị em tôi thời gian dài. Qua Mỹ, thương chị em tôi, mỗi năm, chú gởi tiền về lì xì. Số tiền là món quà lớn đủ cho gia đình ăn Tết, khi chúng tôi lớn lên đi làm, nó thành tặng phẩm tượng trưng cho tình bạn của bố. Khi tuổi lớn, chú Nghiệm về Việt Nam thường xuyên, chú ghé thăm bố, cùng nhau ôn lại chuyện xưa, lúc trầm ngâm khi cười ha hả. Chú luôn chào từ biệt câu: sang năm không biết còn đủ sức khỏe để trở về.

Mỗi khi có việc về thăm cô Tư ở Phù Cát, bố sẽ về Qui Nhơn, nơi sống thời thanh xuân đẹp nhất. Bố thắp nhang mộ bà cố linh thiêng: một đêm trong tháng tư năm 75, trên đèo An Khê, sư đoàn của bác Cả bị chận đánh. Pháo nổ vang trời, bác Cả chạy vào rừng ẩn trong một khu nghĩa địa, Sáng ra bác mới nhận ra mình nằm trong mộ của bà cố, nhờ cố phò trợ cho người cháu đích tôn nên bác trở về Qui Nhơn bình an khi bạn bè phần chết, phần bị bắt.  

Bố thăm ngôi nhà ở khu Kiến Thiết Cục nhìn lại những kỷ niệm ngày xưa in bóng dáng của bà nội bên buồng chuối cạnh giếng nước, cô Tư dịu dàng từng làm chú Nhơn say đắm, nhớ căn gác nhỏ để bạn bè tới học chung, chiếc cửa sổ bố trèo qua, trốn nhà đi chơi khuya.  

Bố cảm ơn bà Thương, người hàng xóm tốt bung đi thăm bác Cả trong tù khi gia đình nội ở mãi tận Dalat. Bố ghé quán cà phê Bốn Mùa, ngắm lại bờ biển tìm bóng chú Nhơn, sóng dạt vào bờ thấp thoáng hình chú Bích trên xe gắn máy đem gà mên đựng thức ăn của bà nội chạy về Phú Tài cho bố vì sợ ăn cơm lính chưa quen. Bố đứng cửa nhà chú Lê Thái Chân tưởng nhớ người bạn thông minh vắn số.

Thời gian thơ ấu còn đi học, chị em tôi được tuy được giáo dục tư tưởng khác nhưng vẫn cảm nhận được sự bi hùng của thanh niên thế hệ bố. Tôi hiểu được niềm khoắc khoải trong tâm mà tiêu biểu của họ là :BỐ. Bố nhẫn nhin mọi chuyện, làm đủ mọi công việc kiếm sống lo cho vợ con và những oái oăm nghịch cảnh khiến đôi khi bố trái tính, khó gần. Về già, bố trở nên trầm mặc, sống cô đơn không giao tiếp, ngại ra khỏi nhà và ít về Dalat.

Cách đây một năm, chú Nghiệm gọi điện về, giọng như reo:
          -Tao báo cho mày một tin vui. Bạn mày Lê Thái Chân chưa chết. Tao mới đọc được một câu chuyện vượt tù của trại A 30 Xuân Phước. Tao chắc là bạn mày. Giờ nó đang ở Mỹ mà tao cũng không biết ở đâu. Tao gởi thư đến tòa soạn nhờ tìm nhưng chưa thấy họ trả lời.

Bố vui mừng như tìm lại một vật quý giá. Bố tìm đọc những bài viết về chú. Hóa ra người bạn hào hùng ấy vẫn còn sống

Ở các trại khác còn nghe chuyện tù trốn thoát chứ tại Xuân Phước thì con kiến cũng không ra lọt. ..

Năm 1980, có 7 anh em (trong đó có Trung Úy Trần Lưu Úy, phi công F-5; Đại Úy Lê Thái Chân, Pháo binh Dù) thoát khỏi trại, giết một tên chủ tịch xã người thượng, cướp súng đi về hướng Phú Bổn; nhưng sau đó bị du kích Thượng truy đuổi và bắn chết hết, chỉ còn Lê Thái Chân bị bắt về chịu án 18 năm.( Quang Phục Võ Văn Sáu)

…..

biết tôi là người cuối cùng còn lại trong đám Sĩ quan tù cải tại trốn trại, nên lại đem tôi ra đánh tiếp, chúng thay phiên đánh, đạp tôi mềm người ra, tôi ngất xỉu nhiều lần. Tới khi thấy tôi sắp chết, chúng mới ngưng đánh mà đem trả lại cho trại Xuân Phước.
Tỉnh lại, tôi mới được anh em đồng tù thuật lại về cái chết của 6 đồng đội. Tất cả 6 cái xác được chôn chung một cái huyệt, san bằng, không để lại chút dấu vết gì!”…(Nguyễn khắp nơi)

Bao đêm bố không ngủ, bố nhớ chú. Một thuở sống hào hùng tưởng chết lịm nay trở về mồn một như hôm qua, hình ảnh người bạn trong bộ quân phục đội mũ đỏ làm bố quay quắt.

Bố nhớ như in chiếc đầu như sọ khỉ của chú,: lời giáo sư Nguyên khen: chưa gặp học trò nào thông minh như chú; cả cuốn sách toán của Nguyễn Xuân Vinh mà chú tặng bố với lời dặn: Mày học kỹ trong đây sẽ đậu tú tài.

Bố ngậm ngùi nghĩ chú thanh cảnh thư sinh mà đọa đày 18 năm không biết thân xác có còn nguyên vẹn khi trở về; thời gian khốn khổ quá dài để con chú trưởng thành mà không có cha bên cạnh

Bố tìm chú nhưng dường như mò kim đáy biển. Chú Nghiệm mới về thăm cũng lắc đầu chưa thấy. Một năm trôi qua, tưởng như không bao giờ gặp lại. Bỗng hôm qua, bác Cả từ Boston gọi báo:

- Bác đi họp mặt gây quỹ giúp những người Dân Sự ở Việt Nam, bác nghe 2 người ngồi nói chuyện về quê Phú Yên, Qui Nhơn. Nghe chữ Qui Nhơn, bác bèn hỏi thăm thì ra đó là chú Lê Thái Chân, bạn bố cháu. Chú  ở gần bác cả mười mấy năm, cùng sinh hoạt cộng đồng với nhau mà không biết. Bác cho số điện thoại để bố cháu liên lạc.

Bất ngờ đến không tin. Mọi chuyện đều do duyên mà có.

Bố gọi điện cho chú. Hình chú hiện qua video, bố và chú nhìn nhau, nghẹn ngào. Đã 50 năm, bố và chú lúc ấy còn nhỏ hơn chị em chúng tôi bây giờ. Mái tóc cả hai nay đều bạc trắng.

Cuộc nói chuyện ngập ngừng bởi chú và bố không dừng được xúc động. Chú nhắn tin:

-Tao đang khóc.

Bên này bố cũng đang khóc…

Giọt nước mắt dành cho tình bạn bao nhiêu năm tưởng chừng đã vào hư không nay hồi sinh lại.

Giọt nước mắt khóc cho cả tuổi thanh xuân 18 năm tuổi trẻ trong địa ngục trần gian của chú và cuộc đời lây lất không niềm tin của bố

Giọt nước mắt tiếc thương một lý tưởng hào hùng ….

 

Tháng 11/2018

Phạm Mai Hương

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn